Make your own free website on Tripod.com

Báo Chui Đối Thoại

Số Ngày15-6-2001

 

Nối kết tiếp tay tán phát cho tới khi nào có tự do dân chủ thật sự

ĐỐI THOẠI - ĐỐI THOẠI - ĐỐI THOẠI (ngày 15 tháng 6 năm 2001)

(Tiếng nói của chủ nhân đất nước - Đối thoại để có dân chủ)

 

Đối thoại số này đặc biệt dành cho các bạn sinh viên, tuổi trẻ Việt Nam với các bài viết phân tích về "sự ngộ nhận một hiện tượng gọi là XHCN" cùng với "những lý sự khiên cưỡng của các nhà lý luận đảng ta về cái gọi là XHCN", do một cựu đảng viên ở Hải Phòng không xa lạ với chúng ta lắm, ông Vu Cao Quận, người "đã đi theo và hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho tới lúc mái đầu điểm bạc cho CNXH, là người trong cuộc". Theo ví von của ông Vu Cao Quận thì ông cung đã từng là ''tội nhân'' trước khi là một ''quan toà'' phê phán cái không tưởng của XHCN. "Cái áo choàng chẳng làm nên thầy tu", và theo ông thì "sự ngộ nhận một hiện tượng, một sự vật không có thực... thì dù có hàng ngàn câu lý sự khiên cưỡng cung không ''làm nên thầy tú' đâu! Một bài viết khác "Con em ta đang bị nhồi sọ" của một đảng viên lão thành ở Hà Nội, với bút hiệu Ngô Yên, cho thấy thực tế tuổi trẻ sinh viên Việt Nam đang bị nhồi sọ bởi môn học chủ nghia Mác-Lênin, "một học thuyết phản dân chủ, phản khoa học, phi thực tiễn, ảo tưởng... đuợc đem dạy, đem nhồi sọ con em chúng ta và buộc chúng phải học, phải thi, phải thi đỗ và có thế mới đuợc coi là người có học vấn, có tri thức, hỏi tương lai của đất nước này sẽ như thế nào ?" Bao giờ mới rửa đuợc nỗi nhục thứ hai sau nhục nô lệ: nổi nhục Việt Nam là nước nghèo nàn, lạc hậu, tụt hậu vào loại nhất thế giới ? Các bạn trẻ, sinh viên Việt Nam cung có thể tìm thấy một số dữ kiện "tin tức cần biết" đuợc ông Ngô Yên tập hợp, đúc kết hệ thống lại để các bạn có một cái nhìn tổng quát về hiện tình đất nước, mau nhận thức ra một cách sâu sắc hầu trang bị kiến thức khẩn cấp cứu nước cứu dân.

SỰ NGỘ NHẬN

 VÀ

 NHỮNG LÝ SỰ KHIÊN CƯỠNG VỀ CNXH

 

Đã tưởng buông bút không định viết lách gì nữa, vì đã quá cái tuổi ''lục thập nhi nhi thuận'' tuổi sáu mươi nghe điều gì cung thấy thuận để tiến tới tuổi ''cổ lai hy'. Nhưng khi đọc bài ''Kiên định con đuờng đi lên CNXH ở nước tá' của tác giả Minh Thư đăng trên tạp chí TTCTTT số 3 năm 2001, không thể không có vài suy nghi muốn trao đổi cùng tác giả. CNXH đã từng là một khát vọng tạm coi là một nửa nhân loại với câu nói khá ngạo nghễ: ''Mặt trời không bao giờ lặn trên lãnh địa của XHCN!''. Niềm tin vào CNCS với thế giới đại đồng cung như niềm tin của các tín đồ Jesus Christ với chốn thiên đàng, các tín đồ Thích ca mâu ni với cõi niết bàn, những niềm tin giống nhau về một miền cực lạc, không hình hài, không vóc dáng, mơ ước chỉ là để mơ ước! Theo tác giả: CNXH là kết quả tất yếu của sự phát triển xã hội loài người! Hình như để ''nặng ký'' cho sự khẳng định của mình nên bài viết chỉ có 4 trang mà tác giả lặp đi, lặp lại tới 66 cụm từ CNXH. Nếu là ''chùa thiêng có bồ tát giỏí' thì khách thập phương nô nức kéo tới hà tất phải ''nam mố' luôn miệng làm gì! Những năm 1960 đã ''dựng'' lên một thứ XHCN vẫn là con trâu đi truớc cái cày như thời dân chủ cộng hoà mà giao cho nhân dân và quân đội phải: chiến đấu - xây dựng và bảo vệ. Rồi đến năm 1976 một lần nữa lại giao nhiệm vụ cho nhân dân cả nước phải xây dựng và bảo vệ vẫn cái XHCN cái cày đi sau con trâu . Thôi thì cứ cho cái xã hội mà con trâu đi truớc cái cày là XHCN định mệnh đi, tạm yên tâm như vậy rồi . Bỗng nhiên đến năm 1991, Đảng (mới) đã lại "phác hoạ ra mô hình" CNXH ở nước ta!... Cung xin nhớ cho là từ ''phác hoạ mô hình'' đến ''mô hình thật sự'' cung còn là một khoảng cách khá xa cung giống như từ ''giai đoạn quá độ'' đến XHCN cung phải trăm năm. Xong lại mãi đến Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định: "Con đuờng đi lên CNXH ngày càng đuợc xác định rõ hơn, ở đây không phải chỉ thấy bộ khung, mà phải thấy rằng nhận thức về CNXH và con đuờng đi lên đã có nhiều phần da thịt của nó?..." Khẳng định về CNXH gì mà lạ vậy ?... từ một bộ khung ''xương'' đã có phần da thịt... mà gọi là CNXH ư! Lại một lần nữa thôi thì chấp nhận cái ''phác hoạ mô hình'' ''cái bộ khung đã có phần da thịt của CNXH'' là CNXH đi . Vậy cái XHCN suốt từ những năm 60 rồi lại đến 76 là cái XHCN gì? Không lẽ:

Sinh con rồi mới sinh cha,

Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông!...

 

Sau khi Liên xô cùng phe XHCN Đông Âu sụp đổ kéo theo cả Mông Cổ ở Châu Á cung đổ theo thì việc giải thích về CN Mác-Lê và CNXH ngày càng ''tắc tị'', nên các nhà Marxologue Made in Viet Nam lại nặn óc để nghi ra 6 đặc trưng của CNXH để giải thích, mà càng giải thích càng rối mù, đến nỗi bác Trần Văn Giàu là ''bậc cây đa, cây đề'' về CN Mác-Lê, từng học ở Đại học Phương Đông với Ti Tô mà cung chưa biết CNXH ra sao!... Rồi nữa bác Lê Giản cung vào hàng ''cổ thụ cộng sản'' cung coi CNXH chỉ là một ẩn số!... Vậy thì làm sao mà hơn 70 triệu nhân dân Việt Nam biết hình thù CNXH ra sao mà đã dứt khoát lựa chọn? Đúng là nói lấy đuợc. Lẽ thường ở đời thì: "nói phải củ cải cung nghe!" Nếu XHCN có 6 đặc trưng theo ''quy luật tất yếú' thì tại sao những năm 60 không thấy công bố 6 đặc trưng này cho toàn dân được biết. Lạ lùng thay khi bắt toàn dân tôn thờ một thứ CNXH trải qua 70 năm ở Liên Xô và 40 năm của Việt Nam, có ''bí mật'' gì mà mãi đến bây giờ nó đã từng sụp đổ mới đuợc nghe 6 đặc trưng về nó!... Tôi lại cùng tác giả ta lại đi vào từng đặc trưng và phân tích xem nó có gì khác với cái thông thường:

- Đặc trưng Thứ nhất: Chế độ ta do nhân dân lao động làm chủ! Thưa với tác giả, từ những năm 1776, Tổng thống Mỹ A . Lincoln đã nói: ''Government of people, by people, for people!'' tức là Nhà nước của Dân - do Dân - vì Dân. Vậy thì nước Mỹ cũng đã có đặc trưng này . Chỉ có điều Nhà nước nào thực sự của Dân - do dân - vì Dân xin nhường các bậc thức giả uyên thâm phân tích.

- Đặc trưng Thứ hai: Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu . (Nếu tôi không lầm thì cụm từ: chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất ''chủ yếú'! Chữ ''chủ yếú' này mới đuợc thêm vào, vì trước đây đã là tư liệu sản xuất thì là công hữu tuốt!). Bàn về ''có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại!..." để mà so sánh với 210 nước trên thế giới hoặc gần ta là các nước Asean thì sợ buồn cười chẩy ra nước mắt nên tôi không dám bàn tiếp. Còn vẫn duy trì, vẫn khẳng định chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, thì phải bàn cẩn thận! Ai mà dám yên tâm làm ăn tu hữu, tư doanh khi vẫn còn thấy lù lù trước mắt đám mây đen ''công hữú' vẫn cứ đang vần vu trên bầu trời CNXH chưa biết lúc nào ụp xuống. Trước nguy cơ dẫn đến sụp đổ của môt nền kinh tế nghèo nàn, què quặt không tránh khỏi, người ta tạm phân chia tư liệu sản xuất ra loại ''chủ yếú' để Nhà nước thả sức độc quyền, còn loại ''thứ yếú' xin mời các bạn cứ tự do bỏ tiền ra đầu tư kinh doanh cho đến khi tình hình tạm ổn, cơn hoạn nạn qua đi thì biết đâu các nhà lý luận lại ''đẻ'' ra luận điểm mới trong cái bài bản cu là: mọi tư liệu sản xuất của xã hội đều quan trọng cả, không thể phân chia cái này là ''chủ yếú', cái kia là ''thứ yếú'... Vậy ''hàm bà lằng'' đều là ''chủ yếú' cả, vậy lúc đó xin các vị kinh tế cá thể, các chủ trang trại, các vị tư bản tư nhân chớ có kêu trời!... Như vậy cái đặc trưng thứ hai này, 210 nước trên thế giới đều có chỉ có khác khúc đuôi thôi!...

- Đặc trưng Thứ ba: Có một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đặc trưng thứ ba có lẽ chẳng cần phải bàn nhiều, vì có nước nào trên toàn thế giới lại không có và không phấn đãu cho mục tiêu này .

- Đặc trưng Thứ tư: Con người đuợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc... và coi đây là đặc trưng riêng có của CNXH! Đặc trưng thứ tư nếu nhận là đặc trưng riêng có của CNXH thì đúng là các nhà lý luận lại mắc phải ''bệnh ngộ nhận chủ nghĩa'. Việt Nam lại còn thiếu hoặc không có áp bức, bất công chăng? Công nhân thì bị chủ xí nghiệp liên doanh bắt làm lao động thêm giờ đến kiệt sức, rút đế giầy đập vào mặt, bắt quỳ, bắt phơi nắng, thậm chí bắt chui qua háng, mắng chửi, sỉ nhục... Nông dân thì bị bọn cường hào mới ở nông thôn đày đoạ sưu cao, thuế nặng như cái gương: Đồng Nai, Thọ Xuân Thanh Hoá, Uy Nổ Đông Anh, Quỳnh Phụ Thái Bình... rồi Đầm Dơi Cà Mâu và gần đây nhất là Đắc Lắc. hàng vạn nông dân nổi dậy chống lại bọn cầm quyền địa phương chẳng lẽ không nói lên điều gì sao ?... Còn nói là: không có bóc lột ư ?... Xin hãy nghe phát biểu của ông V.Đ.L. một thành viên trong cái gọi là Hội đồng nghiên cứu lý luận phát biểu: ''Tôi xin báo cáo các anh là ''quốc doanh'' bóc lột lao động rất ghê gớm! Trả lương thấp như thế, các giám đốc tham nhung như thế có bóc lột không?... Trong đó nguời lao động có quyền gì không?... ''. Và muốn rõ hơn nữa về đặc trưng thứ tư này xin hãy hỏi các VIP hay ra nước ngoài và các con cháu các vị đó đi lao động ở các nước tư bản xem họ phát biểu ra sao ?... Ở Việt Nam không có bóc lột, sao công nhân thế giới ''ngú' thế xin sang Việt Nam lao động có sướng hơn không? Và sao công nhân Việt Nam cung thế, không ở lại lao động tại nước nhà đuợc gần vợ, gần con, lại không bị bóc lột!...

- Đặc trưng Thứ năm: Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau ... Xin tác giả chỉ cho trên 210 nước trên thế giới có bao nhiêu nước mà các dân tộc trong nước họ không đuợc sống bình đẳng, không đoàn kết và không biết giúp đỡ lẫn nhau ? Hãy chỉ coi!

- Đặc trưng Thứ sáu: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới! Đọc xong nội dung cái đặc trưng thứ sáu này cứ cảm thấy nó cu như trái đất! Sự phát triển vu bão của công nghệ tin học làm cho các nước trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau sống như trong một khối phố, xu thế toàn cầu hoá là bất khả kháng. Khi đã toàn cầu hoá là một sân chơi hoàn toàn bình đẳng, hai bên đều có lợi . Nó đã bỏ xa cái quan hệ hữu nghị: vay xin của thời phe XHCN với nhau . Nhất là đối với nước nghèo, chậm tiến, "nói thì như rồng leo, làm thì như mèo mửa", quan hệ hữu nghị và hợp tác chỉ ''nhăm nhăm'': vay và xin viện trợ. Ngày nay quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế cung chỉ cầu mong người ta đầu tư, cho vay vốn, viện trợ không hoàn lại ... Cái quan hệ hữu nghị và hợp tác kiểu trên thì phải kể trên một trăm nuớc vượt quá xa cái đặc trưng vừa hình thức, vừa lạc hậu này . Điểm qua 6 đặc trưng của CNXH Việt Nam thì thấy 6 tượng trưng đặc biệt chẳng mấy khác ai, thậm chí hầu hết các đặc trưng còn thua kém xa các nước họ chẳng hề liên quan đến CNXH. Những suy nghi trên đây của tôi là chỉ muốn trao đổi chứ không phải định tranh luận với tác giả. Nếu không thuận tai thì chỉ xin coi đây là một ''ý kiến ngược'' chứ tôi không định ''chống'' ai cả. Mác từng phê phán: ''Ông Phơ-bách, khi ông đổ chậu nước bẩn vô tình hắt luôn cả cậu bé sau khi tắm còn ngồi trong chậu nước. Đây là một sự phủ định sạch trơn!...''. Tôi không rõ ông Phơ-bách có ngớ ngẩn như Mác trách không, còn tôi khi nhìn vào chậu nước ''lịch sử'' chỉ thấy nước bẩn của một thời vận dụng những sai lầm của một học thuyết chứ không thấy có cậu bé (CNXH) nào ngồi trong đó. Tôi có hắt nước đi nhung là hắt đi những sự ngộ nhận bắt mọi người cứ phải tưởng tượng có cậu bé (CNXH) ngồi trong đó! Đừng vội trách Karl Johann Kautsky nhận xét về nền chuyên chính vô sản và CNXH ở Nga chẳng khác nào: ''một phụ nữ mang thai nhảy nhót điên cuồng, nhằm rút ngắn thời gian mang thai mà nó không thể nào chịu đựng nổi rồi dẫn đến đẻ non... ''. Thậm chí ông còn tiên đoán khá chính xác: '' Đứa trẻ sinh ra như thế thông thường không thể sống nổi!''. Dù có ai đó coi đây là những lời lẽ cay độc thì vẫn không thể không thừa nhận đây là ''một nhận xét tiên trí'! Tiếc thay Kautsky đã đúng!... Đến ngay ĐCS Pháp một đảng cung đáng bậc đàn anh về học thuyết Mác cung không dùng khái niệm CNXH mà thay vào đó bằng cụm từ ''vượt qua CNTB''. ĐCS Nhật Bản cung tuyên bố chia tay với CN Mác cùng nhiều ĐCS Châu Âu, noi thì giải tán Đảng, nơi thì đổi tên Đảng... cùng với sự xụp đổ của Liên xô và các nước XHCN Đông Âu đã chứng minh một sự thật hiển nhiên là ''chiếc thai CNXH bị đẻ non khi nó chưa kịp có hình hài!. Trong Dự thảo văn kiện đảng có đoạn viết:

- ''Thế kỷ XX để lại trong lịch sử loài người những dấu ấn cực kỳ sâu sắc. Đó là thế kỷ phát triển kinh tế mạnh mẽ xen lẫn những cuộc khủng hoảng lớn của CNTB thế giới, thế kỷ của những tiến bộ vượt bực về khoa học và công nghệ, tạo ra giá trị sản xuất vật chất tăng gấp 15 lần so với thế kỷ trước và lớn hơn cả toàn bộ giá trị của hai thiên niên kỷ trước cộng lại ...''.

Dấu ấn cực kỳ sâu sắc đó với những thành tựu vi đại chính là nhờ sự ra đời và phát triển không ngừng của CNTB. Với chiếc máy hơi nước của James Watt năm 1776 (cuộc cách mạng công nghiệp lần I) rồi nhờ phát minh ra điện của Edison (cuộc cách mạng công nghiệp lần II). Cách mạng sinh học đã dẫn đến công nghệ gien, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh và công nghệ enzim... rồi đến chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời 1946 dẫn đến kỷ nguyên tin học ngày hôm nay đều từ CNTB. Vậy chính là Marx chứ không phải ai khác là ngườI đã có ''dự kiến'' quẳng luôn cả chậu nước lẫn cả cậu bé (TBCN) với luận điểm ''giai cấp vô sản sẽ là người đào mồ chôn CNTB!"...

- L'habit ne fait pas le moine! Cái áo choàng chẳng thể làm nên thầy tu! Câu ngạn ngữ Pháp này nói lên một điều là sự ngộ nhận một hiện tượng, một sự vật không có thực... thì dù có hàng ngàn câu lý sự khiên cưỡng cung không ''làm nên thầy tú' đâu! Thưa tác giả Minh Thư! Người viết những dòng này cung đã đi theo và hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho tới lúc mái đầu điểm bạc cho CNXH, là người trong cuộc. Nếu định ví von một chút thì tôi cung đã từng là ''tội nhân'' trước khi là một ''quan toà''. Tôi không có ý định phủ định sạch trơn CNXH, vì với tôi (như đã trình bày ở trên) CNXH làm gì có thực mà phủ định! Để kết thúc bài viết này tôi chợt nhớ tới bài báo ''Chủ nghia Marx và những quyền của con ngườí' của Giáo sư Maria Hirezowicz đăng trên ''Riss'' (Ba Lan) số 157 tháng 9-1998 có đoạn viết:

 

''... Marx miêu tả những người cộng sản như là những con người không đối thoại với ''dư luận sáng suốt'' hoặc với đám đông vô danh...'' Tôi không hiểu ''thâm ý'' của Marx, nhưng qua ''thánh ý'' này tôi hiểu rằng bài viết của tôi trở thành vô nghia với những người cộng sản đuong thời, nhưng thôi đã ''trót'' viết rồi tôi xin đuợc thả vào dòng đời phán xét.

Hải Phòng, tháng 4/2001

Vu Cao Quận

Ghi chú:

Xin tham khảo:

- Tạp chí TTCTTT số 6 và số 8 năm 2000 và số 3 năm 2001.

- Niên giám Quid 2000, tr.1518. Số liệu của năm 1997

- Tạp chí Tia sáng số 4 năm 2001, tr.18.